175 Phong cách nghệ thuật là gì mới nhất

Phong cách nghệ thuật là một cái nhìn thẩm mỹ độc đáo, một phạm trù thẩm mỹ riêng của nhà văn trong hình thức tác phẩm, được hình thành bởi sự thống nhất của các phương tiện biểu đạt phù hợp với nhãn quan cá nhân của nhà văn. Phong cách nghệ thuật được hình thành bởi sự lặp lại thẩm mỹ của một số yếu tố phạm trù nội dung và hình thức trong suốt quá trình hoạt động của tác giả. Đặc trưng nhất quán đầu tiên của phong cách nghệ thuật là tính thống nhất, ổn định và vững chắc.

Bạn đang xem. một phong cách nghệ thuật là gì?

Làm thế nào để biết tác giả của một bài báo hoặc tác phẩm? Làm thế nào để phân biệt giọng của các nhà văn khác nhau? Câu trả lời là phong cách nghệ thuật. Vậy phong cách nghệ thuật là gì? Best Solutions sẽ phân tích khái niệm mới này cho bạn.

* Ý tưởng

“Nghệ thuật là lĩnh vực của cái gốc nên đòi hỏi người sáng tác phải có một phong cách nổi bật, tức là phải có cái gì rất độc đáo, mới mẻ trong tác phẩm” (Ngữ văn 12, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1994, tr. 136) Nhận định trên đặt ra cho văn học nghệ thuật một yêu cầu rất cụ thể, đó là tính độc đáo. Chính sự độc đáo này đã tạo nên phong cách nghệ thuật. Khi tác giả văn học tạo được dấu hiệu riêng rõ nét trong quá trình nhận thức và phản ánh đời sống, thể hiện rõ nét nét độc đáo qua nội dung và hình thức của mỗi tác phẩm thì nhà văn đó được gọi là nhà văn có phong cách nghệ thuật.

* Sự diễn đạt

– Cách nhìn và khám phá cuộc sống độc đáo.

Chẳng hạn, là nhà văn hiện thực, Ngô Tất Tố quan tâm đến số phận người phụ nữ trong xã hội, Nguyễn Cống Hoan bộc lộ bản chất giễu cợt hài hước, Nam Cao miêu tả tấn bi kịch của người trí thức, tỉnh táo. Cùng một chủ đề, nhưng cách tiếp cận và khai thác của mỗi nhà văn không giống nhau.

– Nội dung và chủ đề độc đáo.

Chọn chủ đề, phát triển cốt truyện, quyết định chủ đề, v.v. Mỗi nhà văn tự tạo ra “mảnh đất thực” của riêng mình. Nếu như Thạch Lam viết về cuộc sống buồn “từng ngày” của những đứa trẻ phố thị thì Ngô Tất Tố lại chuyển sang miêu tả “bầu trời đen như mực” của dân làng trước Cách mạng Tháng Năm. Tám. Chính những mảng nội dung đặc sắc này sẽ góp phần định hình phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn.

– Âm thanh độc đáo.

Nói đến Nam Cao là nói đến giọng điệu triết lí, Vũ Trọng Pẩu nói đến giọng điệu trào phúng, Nguyễn Tuân nói đến giọng điệu bộc trực, nghiệp dư điển hình. Giọng điệu là cái thấm thía, thấm thía nhất đối với người đọc giúp nhà văn để lại dấu ấn trong lòng người đọc.

– Nghệ thuật độc đáo.

Nghệ thuật dùng từ, xây dựng kết cấu, nghệ thuật xây dựng và phân tích tâm lí nhân vật… thể hiện tài năng của tác giả. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuân được ngợi ca là bậc thầy ngôn từ, Hoài Tân được ghi nhận là nhà phê bình văn học chính xác và sâu sắc nhất. Phong cách nghệ thuật của nhà văn được hình thành bởi nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố khách quan thời đại và dân tộc. tầm nhìn. Hiểu được phong cách nghệ thuật của từng nhà văn sẽ giúp bạn tiếp cận tác phẩm của họ tốt hơn.

* Nét đặc sắc của phong cách nghệ thuật.

1. Phong cách chính là cá tính của nhà văn.

Nhà văn Pháp Buy Phông đã nói: “Phong cách đó là con người.” Nó được hình thành từ thế giới quan, nhân sinh quan, chiều sâu và sự phong phú của tâm hồn, vốn sống, sở thích, nhân cách, cũng như tài năng sử dụng các hình thức và phương tiện nghệ thuật của nhà văn.

Chẳng hạn, Nguyễn Tuân là người nhìn đời bằng con mắt của cái tôi kiêu hãnh, đầy kiêu hãnh, tự tin, tự trọng, ngưỡng mộ cái Đẹp của cuộc đời. Nguyễn Tuân là người từng trải, đi nhiều, biết nhiều, sống tự do, yêu tự do, thiết tha với đời… Những yếu tố đó trong nhân cách nhà văn được bộc lộ trong phong cách nghệ thuật. Mỹ thuật. Độc đáo, tài năng và biết chữ. Phong cách này khá nhất quán cả trước và sau Cách mạng Tháng Tám.

Khác với Nguyễn Tuân, nhà văn Nam Cao thường viết về những cái nhỏ nhặt, tầm thường. “Chuyện không muốn viết” Từ sự xa lạ quen thuộc trong cuộc sống đời thường, tác phẩm của Nam Kao đã làm nổi bật một vấn đề xã hội có tầm triết lý lớn về con người, cuộc sống và nghệ thuật. Tác phẩm của Nam Kao đề cao nhân cách tư tưởng, đặc biệt quan tâm đến hoạt động bên trong của con người, coi đó là nguyên nhân của hoạt động bên ngoài – đây là một phong cách rất riêng của Nam Kao. Nhà văn luôn quan tâm đến đời sống tinh thần của con người, luôn hứng thú khám phá “con người giữa con người”. Một giọng điệu độc đáo: buồn bã, chua chát. Ông có phong cách nghệ thuật trữ tình triết lí lạnh lùng.

2. Phong cách sáng tác thể hiện nhân sinh quan của nhà văn

Phong cách nghệ thuật không chỉ là những nét vẽ lặp đi lặp lại quen thuộc của nhà văn. Nó phải là sự lặp lại có hệ thống, kết hợp giữa cảm nhận thế giới độc đáo và hệ thống phong cách nghệ thuật phù hợp với nhận thức đó.

Vì vậy, không phải nhà văn nào cũng có phong cách, họ tạo ra phong cách. Văn phong thường được tạo nên bởi một ngòi bút sâu sắc về nhiều mặt; thế giới quan, nhân sinh quan, vốn sống, kinh nghiệm… tài năng nghệ thuật và lòng dũng cảm.

Đặc điểm nổi bật đó (có thế giới quan độc đáo và hệ thống phong cách nghệ thuật phù hợp với cảm giác) được thể hiện nổi bật, có giá trị và khá nhất quán trong hầu hết các tác phẩm của họ, lặp đi lặp lại. Sự lặp lại làm cho người đọc nhận ra. khác với tác phẩm của các nhà văn khác.

Chẳng hạn giữa Nguyễn Côn Hoan với Nam Cao, Xuân Dịu với Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân với Nguyễn Minh Châu…

3. Nghệ thuật là vương quốc giàu có độc nhất vô nhị. Phong cách là nét độc đáo không trùng lặp.

Xem thêm: Game thời trang dành cho nam và nữ. Cách chơi game thời trang nam nữ

Sự thật có thể giống nhau, nhưng cách nhìn, cách cảm và cách nghĩ của người viết phải khác và độc đáo. L. Tolstoy nói: “Khi chúng ta đọc hay xem tác phẩm văn học nghệ thuật của một tác giả mới, câu hỏi chủ yếu luôn nảy sinh trong lòng chúng ta là: Bây giờ hắn là người, thế này là thế nào? Anh ấy khác với những người khác mà tôi biết như thế nào, và anh ấy có thể cho tôi biết điều gì đó mới mẻ về cách chúng ta nên nhìn nhận cuộc sống của mình không?’ (L. Tonsto toàn tập).

Ví dụ: Cùng thể hiện khả năng trào phúng nhưng hai nhà văn Nguyễn Côn Hoan và Vũ Trọng Phụng vẫn đồng thời tạo ra những phong cách khác nhau;

+ Tiếng cười của Nguyễn Côn Hoan nhẹ nhàng sâu lắng, tạo nên những tình huống trớ trêu, nghịch lí (Kép Tư Bền, Người kỵ mã, người ngựa…).

+ Vũ Trọng Phụng cười chua chát, thâm thúy, dữ dội như muốn chửi thẳng vào mặt người ta (kiểu Số đỏ).

+ Nam Cao có giọng điệu buồn, chua ngoa, có lúc lạnh lùng, dường như vô tình.

4. Phong cách nghệ thuật ổn định, nhất quán

Chẳng hạn, Nguyễn Tuân đã có những thay đổi khá rõ rệt về tư tưởng sáng tác trong hai thời kỳ sáng tác, nhưng vẫn giữ được một phong cách độc đáo, tài hoa và uyên bác. Co nhung nguoi khac.

+ Trước cách mạng, ông thích viết phù phiếm, nổi dậy chống lại sự tầm thường, thường tình của cuộc sống. Người đẹp thường phóng khoáng.

+ Sau cách mạng, ông thích viết một cách tự tin, hãnh diện, tự hào về tài năng và lòng dũng cảm của mình. Cái đẹp vẫn nằm trong thử thách gai góc nhưng giản dị, chân thực hơn.

5. Phong cách nghệ thuật rất biểu cảm và đa dạng, điều này phụ thuộc vào tài năng và thế mạnh của mỗi nhà văn.

Phong cách sáng tác thể hiện ở việc chọn đề tài. Có nhà văn chỉ thích đề tài nông thôn. một số người thích và chỉ chọn các chủ đề đô thị; Có người thích thực tế nhẹ nhàng, giản dị và sâu lắng; Cũng có người thích khai thác những cái dữ dội, đau đớn, ám ảnh con người mãnh liệt…).

Phong cách sáng tác có thể được thể hiện trong việc lựa chọn thể loại. Mỗi nhà văn chỉ viết hay nhất ở một thể loại, thể loại đó là phong cách của họ.

Phong cách sáng tác thể hiện ở cách sử dụng ngôn ngữ. Có những nhà văn thích ngừng viết hay, trầm lắng và sâu sắc, nhưng có những người luôn tỉnh táo, sắc sảo và tàn bạo; Có người thích ngôn từ dễ thương nhưng sâu sắc, có người lại sắc sảo, dữ dội, sâu sắc…

Phong cách sáng tác thể hiện ở giọng điệu. Có nhà văn thường tạo ra giọng điệu tình cảm, ngọt ngào, da diết; trong khi những người khác thành công với giọng văn thấm đẫm triết lý…

Một phong cách sáng tác có thể được thể hiện theo cách xây dựng nhân vật trung tâm. Chân dung kiểu người – Nguyễn Tuân; kiểu tâm lí nhân vật – Nam Cao; Kiểu nhân vật nhục cảm – Thạch Lam, Kiểu nhân vật võ – Nguyễn Minh Châu (sáng tác trở lại 1975), Kiểu nhân vật CON – CON NGƯỜI – Nguyễn Huy Thiệp…

6. Phong cách nghệ thuật là nét riêng biệt, mang đậm tính cá nhân nhưng cần có quan hệ chặt chẽ với hệ thống phong cách chung của thời đại văn học.

Chẳng hạn, phong cách của các nhà thơ Xuân Dịu, Hanh Mak Tui, Chế Lan Viên trước Cách mạng Tháng Tám đều nằm trong phong cách lãng mạn của phong trào Thơ mới Lãng mạn Việt Nam 1932-1945.

Hơn nữa, phong cách nghệ thuật chỉ có giá trị khi nó thực sự góp phần vào sự tồn tại và phát triển của phong cách và sự đa dạng của nền văn học dân tộc nói chung.

7. Phong cách sáng tác chịu ảnh hưởng của nhiều khía cạnh tinh thần như tâm lý, khí chất, cá tính của người sáng tác. đồng thời cũng mang đậm dấu ấn dân tộc và thời đại.

Mỗi thời đại lịch sử và văn học có liên quan có thể tạo ra những phong cách làm việc đặc trưng của riêng mình;

+ Chẳng hạn, ở thời trung đại, phong cách Hồ Xuân Hương còn mang nặng ý thức hệ phong kiến, văn chương chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan điểm vị tha;

+ Văn phong Nguyễn Tuân thời Pháp thuộc phát triển theo hướng văn chính luận, văn lãng mạn, bộc lộ đầy đủ và sâu sắc cái tôi của một nghệ sĩ tài hoa, phóng khoáng…

  • Giấc mơ giống nhau là gì?
  • vết lõm là gì?
  • Tại sao bạn thích mèo?
  • Bức thư của trái tim là gì?